HOT NEWS

Châu Á bắt đầu ngấm 'nỗi đau khát dầu'

Admin

Các nền kinh tế châu Á đang bắt đầu cảm nhận những tác động nghiêm trọng đầu tiên của việc xuất khẩu dầu khí bị đình trệ ở vùng Vịnh Ba Tư, với tăng trưởng kinh tế chững lại và có khả năng xấu đi trong những tháng tới. Một số nền kinh tế đã rơi vào tình trạng lạm phát đình trệ, và triển vọng ảm đạm.

Châu Á mua 85% tổng lượng dầu nhập khẩu từ các nước vùng Vịnh Ba Tư. Điều này khiến khu vực này đặc biệt dễ bị tổn thương trước những cú sốc nguồn cung mà hầu như không ai tin là sẽ xảy ra. Giờ đây, khi điều đó đã xảy ra, châu Á đang phải gánh chịu hậu quả của sự phụ thuộc nặng nề này.

Theo dữ liệu của Kpler được Reuters trích dẫn tuần này, châu Á đã nhập khẩu ít hơn 30% lượng dầu trong tháng trước so với tháng 4/2025. Nhập khẩu từ Hoa Kỳ đang tăng mạnh, nhưng vẫn không đủ để bù đắp khoảng trống do nguồn cung dầu từ Trung Đông bị đóng băng.

Theo dữ liệu của Kpler, các nhà xuất khẩu của Hoa Kỳ đang vận chuyển 2,27 triệu thùng dầu mỗi ngày đến châu Á trong tháng này, tăng lên 3,29 triệu thùng mỗi ngày vào tháng 5. Tuy nhiên, theo Kpler, lượng dầu vận chuyển từ Trung Đông sang châu Á trong tháng 4 chỉ đạt 14,8 triệu thùng mỗi ngày, giảm đáng kể so với mức trung bình 18,63 triệu thùng mỗi ngày của tháng 3. Nói cách khác, nhập khẩu từ Trung Đông giảm khoảng 4 triệu thùng mỗi ngày, trong khi nhập khẩu từ Mỹ tăng chỉ 1 triệu thùng mỗi ngày.

Châu Á cũng đang tăng cường nhập khẩu dầu thô từ Nga, với việc Mỹ một lần nữa gia hạn miễn trừ trừng phạt cho phép các giao dịch mua bán này. Tuy nhiên, lượng dầu trên thế giới không đủ để lấp đầy hoàn toàn khoảng trống này, đó là lý do tại sao các nhà dự báo đã bắt đầu điều chỉnh triển vọng tăng trưởng của họ.

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) mới đây đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương, dự kiến khu vực này sẽ tăng trưởng 4,7%, thấp hơn so với dựbáo trước đó là 5,1%, theo Reuters đưa tin. ADB cũng nâng triển vọng lạm phát cho khu vực, dự kiến mức trung bình sẽđạt 5,2% trong năm nay.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng không lạc quan hơn. "Châu Á bước vào năm 2026 với nền tảng vững chắc", nhà kinh tếAndrea Pescatori của IMF cho biết tháng trước, theo trích dẫn của Asia Times. Tuy nhiên, "chiến tranh ở Trung Đông và cú sốc nguồn cung năng lượng sau đó đang làm tăng lạm phát, làm suy yếu cán cân thanh toán quốc tế và thu hẹp các lựa chọn chính sách, nhấn mạnh sự phụ thuộc của khu vực vào dầu khí nhập khẩu".

Mặc dù nhìn chung phụ thuộc mạnh vào nhập khẩu năng lượng từ Trung Đông, không phải tất cả các nền kinh tế châu Á đều dễ bị tổn thương như nhau trước tác động của cú sốc nguồn cung.

Các quốc gia châu Á nghèo hơn là những quốc gia đầu tiên bắt đầu cạn kiệt các lựa chọn. Do nguồn lực tài chính hạn chế, các quốc gia này không thể xây dựng được loại dựtrữ dầu mỏ mà các nước láng giềng giàu có hơn đã khai thác để đối phó với khủng hoảng. Một số quốc gia ở Đông Nam Á đã bắt đầu thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng về năng lượng, trong đó Philippines đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia.

Trong khi đó, Trung Quốc sở hữu trữ lượng dầu mỏ hơn một tỷ thùng được tích lũy trong vài năm qua, có nguồn cung đa dạng hơn nhiều với sự góp mặt của Iran và Nga – không giống như các nước nhập khẩu châu Âu chẳng hạn – và đã nhanh chóng hạn chế xuất khẩu nhiên liệu để đảm bảo nguồn cung trong nước.

Về phần mình, Nhật Bản duy trì trữ lượng dầu mỏ vững chắc khoảng 400 triệu thùng, khiến nước này trở thành một trong những quốc gia có trữ lượng lớn nhất thế giới. Hiện nay, Nhật Bản đã bắt đầu sử dụng nguồn dự trữ này để kiềm chế giá nhiên liệu trong nước.

Các quốc gia châu Á khác đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để đối phó với tình trạng khan hiếm dầu khí, nhưng vấn đề với những biện pháp này là chúng không thể duy trì trong thời gian dài.

Làm việc tại nhà là một giải pháp tạm thời trong tình trạng thiếu hụt, cũng như trợ cấp nhiên liệu và việc sử dụng dầu từ các kho dự trữ chiến lược. Các khoản trợ cấp cũng khá nguy hiểm vì chúng làm cạn kiệt ngân sách chính phủ rất nhanh, hạn chế khả năng can thiệp của chính phủvào các lĩnh vực khác nếu cần thiết.

Một số quốc gia đã bắt đầu phân bổ nhiên liệu theo định mức, trong khi những quốc gia khác, cụ thể là Nhật Bản và Úc, đã tiến hành các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, theo đuổi cách tiếp cận dài hạn đối với kế hoạch an ninh năng lượng.

Tuy nhiên, vấn đề trước mắt là thiếu dầu mỏ trầm trọng. Giải pháp cuối cùng, nếu có thể gọi như vậy, sẽ là sựsụt giảm nhu cầu nếu chiến tranh kéo dài nhiều tháng. Sự sụt giảm nhu cầu này sẽ xảy ra một cách tự nhiên khi giá cả trở nên quá cao đối với ngày càng nhiều người tiêu dùng.

Về mặt kinh tế, đây là tin xấu vì tiêu dùng giảm đồng nghĩa với nền kinh tế suy giảm. Viễn cảnh này đã khiến Goldman Sachs phải điều chỉnh triển vọng đối với một số nền kinh tế châu Á, bao gồm Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á, mặc dù họ lưu ý rằng, cho đến nay, tác động của chiến tranh đối với châu Á chưa tồi tệ như lo ngại.

Tuy nhiên, các nhà phân tích của ngân hàng cho biết, "Mức độ phục hồi cho đến nay phản ánh bao nhiêu yếu tố cấu trúc so với sự suy giảm không bền vững của các khoản dự trữ?" Có vẻ như chúng ta sắp tìm ra câu trả lời trong thời gian sớm nhất.