DOANH CHỦ

Nhiều năm sau cú bắt tay Intel với doanh nghiệp nội "vô danh" Fab 9: Vì sao Việt Nam vẫn thiếu doanh nghiệp đạt chuẩn toàn cầu?

Admin

Chuyện Intel "mở cửa" cho Fab 9 được xem là cái kết có hậu cho mối liên hệ giữa khối FDI và khối nội. Tuy nhiên, trong 40 năm thu hút FDI của Việt Nam, đây vẫn là hàng hiếm.

Việc Intel lựa chọn doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng cho thấy nỗ lực của DN Việt khi bước vào cuộc chơi toàn cầu. Ảnh: Intel.

Intel và “của hiếm” mang tên Fab 9

Tại Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026 mới đây, câu chuyện hợp tác giữa Fab 9 và Intel được nhắc đến như một ví dụ hiếm hoi về doanh nghiệp Việt có thể chen chân vào chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.

Ông Việt Trần, Tổng Giám đốc Fab 9, kể lại rằng khi nhận được cuộc gọi từ Intel, doanh nghiệp của ông gần như không tin mình đủ năng lực để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Khi đó, Fab 9 mới chỉ sản xuất một số linh kiện kỹ thuật, quy mô và trình độ công nghệ còn hạn chế.

Tuy nhiên, thay vì từ chối vì tâm lý e ngại, Fab 9 quyết định tham gia đối thoại và từng bước thích nghi với các yêu cầu của đối tác. Theo ông Việt Trần, hai bên tìm được tiếng nói chung ở mục tiêu xây dựng hệ sinh thái công nghiệp bản địa.

Từ một doanh nghiệp gần như "vô danh", Fab 9 hiện đã trở thành nhà cung ứng của Intel tại Việt Nam trong lĩnh vực kiểm tra tấm bán dẫn và chip, một ngành đòi hỏi độ chính xác và tiêu chuẩn kỹ thuật rất cao. Doanh nghiệp này hiện có khoảng 800 nhân sự và đặt nhà máy chính tại Bình Dương.

Câu chuyện Fab 9 cho thấy doanh nghiệp Việt không hoàn toàn đứng ngoài cuộc chơi công nghệ cao nếu tận dụng được cơ hội hợp tác và chủ động nâng cấp năng lực. Tuy nhiên, đây vẫn là "của hiếm" trong bức tranh liên kết FDI tại Việt Nam.

"Đội quân" vệ tinh ngoại đang tràn vào Việt Nam

Doanh nghiệp nội địa sẽ phải cạnh tranh với doanh nghiệp nhỏ đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc... đang lũ lượt vào Việt Nam.

Số liệu mới nhất từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho thấy, trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt trên 18,7 tỷ USD, tăng 35,5% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trong quá trình dịch chuyển, tái cấu trúc và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Tuy nhiên, một thực tế được ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ ra rằng qua nhiều năm khảo sát và điều tra, VCCI nhận số lượng doanh nghiệp FDI quy mô nhỏ đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan đang ngày càng tăng lên.

"Điều này cho thấy, đằng sau Intel, Samsung và các tập đoàn đa quốc gia khác, có một làn sóng nhà cung cấp nước ngoài quy mô nhỏ cũng đang theo vào Việt Nam", ông Đậu Anh Tuấn nói và chỉ ra rằng điều này đồng nghĩa dư địa cho doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng có nguy cơ bị thu hẹp nếu không nhanh chóng nâng năng lực cạnh tranh.

Một thực tế khác cũng được ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, đưa ra là tỷ lệ doanh nghiệp FDI tại Thái Lan sử dụng đầu vào nội địa lên tới khoảng 90%, trong khi ở Việt Nam mới đạt khoảng 60%. Khoảng cách này phản ánh chất lượng liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế, dù Việt Nam đã thu hút đầu tư nước ngoài gần bốn thập kỷ.

Là người sát sao cùng doanh nghiệp, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam thừa nhận doanh nghiệp Việt chủ yếu vẫn hoạt động theo xu hướng rời rạc, thiếu sự liên kết để có thể cùng chia sẻ một đơn hàng lớn, điều đó khiến cho doanh nghiệp bị hụt hơi trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.

"Một nhà đầu tư FDI tại Việt Nam chia sẻ rằng, doanh nghiệp có nhu cầu về một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh từ cung ứng linh kiện, vật liệu, logistics đến kỹ thuật hỗ trợ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa liên kết thành chuỗi như vậy và bản thân họ phải lần lượt gõ cửa từng doanh nghiệp riêng lẻ một", bà Hương nói.

Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp Việt còn có quy mô vừa và nhỏ, nguồn lực nghiên cứu và phát triển (R&D) hạn chế; trong khi đó trình độ quản trị sản xuất chưa đồng đều; mức đầu tư cho tự động hóa và phát triển chuyển đổi số cũng chưa đủ sâu; nguồn nhân lực chưa đủ mạnh. Doanh nghiệp Việt khó có thể bước vào một mắt xích có giá trị cao ở trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.

"Không ít doanh nghiệp khi được đối tác trao sản phẩm mẫu thường làm với chất lượng tốt, tuy nhiên lại khó trong việc duy trì chất lượng trong dài hạn. Nhiều doanh nghiệp Việt còn gặp khó trong việc đáp ứng tiêu chuẩn về kiểm định chất lượng quốc tế hoặc vấn đề giao hàng chưa kịp thời và đồng bộ", bà nói.

Không thể chỉ chờ FDI "mở cửa"

Là người trực tiếp phụ trách cùng Cục Đầu tư nước ngoài xây dựng đề án mới trình Bộ Chính trị ban hành nghị quyết mới về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, luôn đau đáu về mối liên kết giữa hai khối doanh nghiệp nội – ngoại.

Bà cho rằng câu chuyện Intel và Fab 9 dù tích cực nhưng cũng cho thấy thực tế: để tạo ra một mối liên kết thành công giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt có khi phải mất hàng chục năm.

Theo bà, vấn đề liên kết đã được đặt ra từ rất lâu nhưng đến nay vẫn là bài toán chưa giải quyết triệt để. Chính phủ không thể chỉ kỳ vọng doanh nghiệp FDI tự động chia sẻ công nghệ hay hỗ trợ doanh nghiệp nội địa, mà cần sự chủ động từ cả hai phía.

Với khối FDI, bà Thủy cho rằng điều doanh nghiệp Việt cần là cơ hội được tham gia, được hướng dẫn và được tiếp cận rõ ràng với các tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị hay điều kiện tham gia chuỗi cung ứng. "Về phía doanh nghiệp FDI, chúng tôi rất mong các doanh nghiệp cởi mở hơn, trao cho chúng tôi cơ hội như Intel đã từng làm với Fab 9. Các doanh nghiệp trong nước hiện nay đã khác trước, đã lớn lên và sẵn sàng đáp ứng được các yêu cầu đó", bà nói.

Ở chiều ngược lại, bà cũng nhấn mạnh doanh nghiệp trong nước buộc phải chủ động lớn lên và mạnh lên. Theo bà, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 và các cơ quan đang thúc đẩy nhiều giải pháp nhằm nâng cấp năng lực doanh nghiệp nội địa để thu hẹp khoảng cách với khu vực FDI.

Bà nhắc lại hình ảnh so sánh từng được nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng đưa ra: doanh nghiệp FDI giống "trình độ đại học", còn nhiều doanh nghiệp trong nước mới ở "trình độ lớp 1, lớp 2". Vì vậy, mục tiêu cốt lõi hiện nay là rút ngắn khoảng cách này để doanh nghiệp Việt đủ sức tham gia sâu hơn vào các công đoạn giá trị cao.

Song song với đó, định hướng thu hút FDI thời gian tới cũng sẽ có sự phân hóa theo địa bàn. Các khu vực trung tâm, vùng động lực hay ngành chiến lược sẽ ưu tiên dự án công nghệ cao và công nghệ lõi. Trong khi đó, những địa phương có điều kiện hạ tầng hạn chế hơn sẽ hướng tới các dự án công nghệ thấp hơn nhưng có khả năng lan tỏa phát triển cho khu vực xung quanh.

Ngoài ưu đãi chính sách, hạ tầng cũng được xem là yếu tố then chốt. Theo bà Thủy, Việt Nam sẽ tiếp tục đầu tư mạnh vào giao thông, hạ tầng số, dữ liệu và đặc biệt là hạ tầng năng lượng. Đây là yếu tố sống còn đối với các dự án bán dẫn và công nghệ cao.