Áp lực vốn cho giai đoạn tăng trưởng cao
Những năm gần đây, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức khoảng 32-34% GDP - một tỉ lệ tương đối cao đối với nền kinh tế đang phát triển.
Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia từng duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài như Hàn Quốc (35-38% GDP giai đoạn 1970-1990), Singapore (35 - 40% GDP), Trung Quốc (40-45% GDP giai đoạn 1990-2015), quy mô vốn đầu tư của Việt Nam vẫn chưa đủ để tạo bứt phá mạnh mẽ, đặc biệt hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra bài toán rất lớn về huy động nguồn lực cho nền kinh tế.
Tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026 - 2030 ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2021-2025 (Ảnh: Hữu Thắng).
Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026 - 2030 ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2021-2025 (khoảng 17,4 triệu tỷ đồng). Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân 16%/năm, nâng tỉ lệ đầu tư/GDP bình quân từ khoảng 33% giai đoạn 2021-2025 lên khoảng 40% giai đoạn 2026-2030.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ sẽ tập trung huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ, đồng thời tiếp tục duy trì nguồn vốn vay nước ngoài và tìm kiếm thêm các nguồn vay quốc tế khác phục vụ đầu tư phát triển.
"Hiện nay, dư nợ trái phiếu Chính phủ so với GDP đã giảm xuống. Vì vậy, việc tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này vẫn là một trong những giải pháp trọng tâm", bà Tâm cho biết, đồng thời nhấn mạnh Bộ Tài chính đang rà soát khung pháp lý để hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến huy động vốn của Chính phủ.
Bên cạnh đó, việc nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng được xác định là yếu tố quan trọng. Khi các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được cải thiện, tính minh bạch của thị trường được nâng cao và niềm tin của nhà đầu tư quốc tế được củng cố, khả năng huy động vốn trên thị trường quốc tế sẽ thuận lợi hơn, cả thông qua phát hành trái phiếu quốc tế cũng như vay vốn nước ngoài.
Chuyển dòng vốn sang thị trường cổ phiếu, trái phiếu
Theo các chuyên gia, bài toán nguồn lực không chỉ dừng ở phía cung vốn. Điều quan trọng không kém là cấu trúc của hệ thống tài chính và cách thức phân bổ nguồn lực.
Ông Nguyễn Bá Hùng – Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam cho rằng, thị trường tài chính có nguyên lý cơ bản là rủi ro càng cao thì lợi suất kỳ vọng càng cao và ngược lại. Nhiệm vụ của thị trường tài chính là cân đối mối quan hệ giữa lợi suất và rủi ro, đồng thời tạo ra các công cụ để doanh nghiệp có thể kiểm soát rủi ro, đưa mức rủi ro về gần điểm tối ưu.
Ở góc độ cấu trúc, thị trường tài chính bao gồm các tổ chức trung gian như ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm; cùng với các thể chế kết nối trực tiếp giữa người có tiền và người cần tiền, bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Trong đó, thị trường vốn gồm thị trường trái phiếu và cổ phiếu – đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy hệ thống tài chính vẫn phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng ngân hàng.
Ông Nguyễn Bá Hùng – Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam.
Theo ông Hùng, tín dụng ngân hàng hiện vẫn tăng trưởng nhanh, trong khi nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn, thường dưới 7 năm. Trong khi đó, nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án hạ tầng, thường kéo dài 15-20 năm. Sự lệch pha này tạo ra áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng, đồng thời làm hạn chế khả năng tài trợ cho các dự án dài hạn.
Tại nhiều quốc gia, các dự án hạ tầng thường vay vốn ngân hàng trong giai đoạn xây dựng khi rủi ro cao. Sau khi dự án hoàn thành và bắt đầu tạo dòng tiền, doanh nghiệp sẽ phát hành trái phiếu dài hạn để tái cấp vốn và trả lại khoản vay ngân hàng. Cơ chế này giúp giải phóng nguồn vốn của ngân hàng để tiếp tục tài trợ cho các dự án mới.
"Tuy nhiên, nếu thị trường tài chính không liên thông, cơ hội này sẽ bị hạn chế và khả năng huy động vốn cho các dự án lớn cũng bị ảnh hưởng", ông Hùng nhận định.
Dữ liệu thị trường cũng cho thấy nhiều điểm nghẽn. Tỉ trọng thị trường trái phiếu so với GDP của Việt Nam vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực. Khoảng 2/3 quy mô thị trường trái phiếu là trái phiếu Chính phủ, trong khi trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 1/3, tương đương khoảng 10% GDP.
Không chỉ vậy, mức độ giao dịch thứ cấp của thị trường trái phiếu còn hạn chế, cho thấy tính thanh khoản chưa cao. Thanh khoản thấp đồng nghĩa với việc nhà đầu tư phải chịu rủi ro thanh khoản lớn hơn. Cơ cấu nhà đầu tư cũng chưa đa dạng khi phần lớn vẫn là các ngân hàng thương mại và công ty bảo hiểm. Trong khi đó, ở các thị trường phát triển hơn, có sự tham gia của nhiều nhóm nhà đầu tư khác nhau, bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài.
Tăng tỉ trọng nguồn vốn trung - dài hạn
TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, vấn đề trọng tâm hiện nay là làm sao thay đổi được cấu trúc nguồn vốn, đặc biệt là tăng tỉ trọng các nguồn vốn trung và dài hạn.
"Tín dụng ngân hàng hiện nay vẫn chiếm tỉ trọng rất lớn. Do đó, cần có sự chuyển dịch dòng vốn, từng bước chuyển từ việc phụ thuộc chủ yếu vào vốn vay ngân hàng sang phát triển mạnh hơn các kênh thị trường vốn, như thị trường trái phiếu và cổ phiếu", ông Việt nhận định.
Theo ông Việt, thời gian qua, các cơ quan quản lý đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, phát triển thị trường và nâng cao tiêu chuẩn để thu hút các nguồn vốn đầu tư. Tuy nhiên, một vấn đề đã được bàn nhiều nhưng chưa được nhìn nhận đầy đủ là vai trò của các nhà đầu tư chuyên nghiệp.
"Trong bối cảnh thị trường có những giai đoạn cần phải ổn định, thậm chí "giải cứu", việc phát triển các nhà đầu tư chuyên nghiệp trở nên đặc biệt quan trọng. Không chỉ là các nhà đầu tư quốc tế, mà cả các nhà đầu tư tổ chức trong nước cũng cần được phát triển mạnh mẽ hơn", ông Việt nói và cho rằng, hiện cơ chế, chính sách để khuyến khích các nhà đầu tư này tham gia sâu vào thị trường vẫn còn nhiều hạn chế.
TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, để thu hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp, cần tiếp tục cải thiện chính sách tài chính, trong đó có thể xem xét chính sách thuế đối với lợi nhuận từ hoạt động đầu tư nhằm tạo động lực mạnh hơn cho thị trường.
Bên cạnh đó, việc giảm bớt thủ tục hành chính cũng là yếu tố quan trọng. Kinh nghiệm từ các trung tâm tài chính quốc tế cho thấy các quy trình đều được thiết kế theo hướng đơn giản, minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
"Ở đây không chỉ là câu chuyện về chính sách riêng lẻ, mà là việc xây dựng một hệ sinh thái dịch vụ tài chính. Không chỉ các cơ quan quản lý, mà toàn bộ hệ thống dịch vụ tài chính đều cần được tổ chức theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế", ông nói.
Ở góc độ vận hành thị trường, ông Nguyễn Bá Hùng – Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB cũng nhấn mạnh vai trò của thông tin. Theo đó, một yếu tố rất quan trọng để kiểm soát rủi ro là thông tin đầy đủ và minh bạch.
Đối với thị trường trái phiếu, cần có hệ thống xếp hạng tín nhiệm để đánh giá rủi ro tín dụng của doanh nghiệp phát hành. Đối với cá nhân vay vốn, cần có cơ sở dữ liệu tín dụng để các tổ chức cho vay có thể đánh giá mức độ rủi ro. Những thông tin này giúp xác định mức lãi suất phù hợp với từng mức độ rủi ro, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.
Chú trọng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.
"Chúng ta không chỉ tập trung vào việc huy động vốn mà còn phải bảo đảm rằng nguồn vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả. Điều này đòi hỏi nâng cao chất lượng lựa chọn dự án, cải thiện công tác quản lý và triển khai. Nếu các dự án đầu tư công được thực hiện hiệu quả, không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao uy tín tài chính quốc gia, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động vốn trong tương lai", bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính).