Ảnh minh họa
Tại phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô vào 29/12/2025, Thủ tướng cho biết, năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phải tiếp tục ưu tiên giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài theo Nghị quyết của Quốc hội; tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, một điều chưa từng xảy ra trước đây. Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, có 2 lý do để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu này. Thứ nhất, đà và thế tăng trưởng của Việt Nam nói chung đang tốt, nhất là khi đặt trong tương quan quốc tế.
Thứ hai, nhận thức của Việt Nam về nguy cơ tụt hậu ngày càng rõ ràng và thực chất. Nhận thức đó hàm nghĩa Việt Nam đang chịu áp lực phải tăng trưởng nhanh để không bị loại khỏi cuộc đua toàn cầu. Áp lực này bản chất là thách thức; nhưng vì thế, chứa đựng khả năng chuyển hóa thành động lực mạnh cho tăng trưởng.
Hai yếu tố này hội tụ, tạo cơ sở và bắt buộc Việt Nam phải đặt hệ mục tiêu đầy tham vọng. Có nghĩa rằng mục tiêu tăng trưởng cao bền vững không còn là thứ để lựa chọn (hoặc không) mà là cái đất nước bắt buộc phải làm, phải đạt. PGS. TS Trần Đình Thiên muốn lưu ý thêm rằng Việt Nam đang định hướng không chỉ tăng trưởng hai chữ số trong 5 năm tới mà còn là 10-15 năm tiếp theo.
Một mục tiêu mà trước khi bàn về tính khả thi của việc đạt được, không thể không thừa nhận tính “bất khả thi” cao của nhiệm vụ này, bất khả thi không chỉ với Việt Nam mà với cả thế giới.
Lịch sử chưa từng ghi nhận quốc gia nào đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế táo bạo như Việt Nam đang đặt ra. Còn với Việt Nam, trong suốt giai đoạn dài tăng trưởng khá cao của 40 năm đổi mới vừa qua, chưa từng năm nào nền kinh tế chạm tới “ngưỡng” 2 chữ số, PGS. TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Trong bối cảnh cạnh tranh và rủi ro toàn cầu hiện nay, khi bước chuyển thời đại phát triển đang diễn ra, thì việc một nước đi sau, vừa thoát khỏi trình độ thu nhập trung bình thấp, đặt mục tiêu ấy, tuy thể hiện khát vọng lớn, quyết tâm cao, song thật sự khó tin vào tính khả thi.
Trong bối cảnh hiện nay, tính khả thi là có thể, nhưng chỉ là khi phương thức phát triển thay đổi căn bản. Nếu vẫn giữ cách tiếp cận cũ, vẫn duy trì cơ chế “xin-cho” và tư duy phân biệt đối xử trong phân bổ nguồn lực và cạnh tranh thị trường thì sẽ mục tiêu tăng trưởng bền vững là không thể. Muốn vậy, phải đổi tầm nhìn, đổi mới tư duy, thể chế và cấu trúc vận hành nền kinh tế.
Trong năm 2026, PGS. TS Trần Đình Thiên khuyến nghị cần tháo gỡ các dự án đang bị “tắc”. Khi các điểm nghẽn này được khơi thông, dòng vốn mới có thể lưu chuyển, việc làm mới được tạo ra và khu vực tư nhân mới có cơ hội phục hồi. Hiện nay, số lượng dự án bị “tắc” là quá lớn. Nếu không xử lý được khâu này, nền kinh tế rất khó bứt lên. Đây là nhiệm vụ cấp bách và phải làm ngay.
Thứ hai, sửa đổi Luật Đất đai theo hướng làm rõ quyền tài sản và cơ chế hình thành giá đất. Quyền tài sản phải minh bạch, còn giá đất phải vận hành theo nguyên tắc thị trường dựa trên cung cầu và cạnh tranh lành mạnh. Hiện nay, chúng ta vẫn lúng túng, thậm chí nhầm lẫn giữa giá đầu cơ và giá thị trường, khiến nguồn lực đất đai không được phân bổ hiệu quả.
Thứ ba, cải thiện thị trường vốn và thị trường tín dụng. Thị trường vốn hiện còn yếu, rủi ro cao, trong khi doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn lực dài hạn. Chủ trương phát triển các sàn giao dịch và nâng cấp hạ tầng tài chính là hướng đi đúng, nhưng cần được triển khai nhanh để tạo điều kiện cho khu vực tư nhân sử dụng vốn hiệu quả hơn.
Một vấn đề không thể bỏ qua là quản lý thị trường gắn với thương mại điện tử. Hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc tràn vào đang tạo sức ép lớn lên sản xuất trong nước. Nếu không có cách tiếp cận phù hợp, nền sản xuất nội địa có nguy cơ bị “knock out”. Đây là vấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến sức sống của doanh nghiệp Việt.
Cuối cùng, dù Việt Nam đang hình thành các “tọa độ đột phá” như khu thương mại tự do, trung tâm tài chính hay các cực tăng trưởng, nhưng phải đặc biệt lưu ý bối cảnh xung đột thương mại toàn cầu Một bên là xu hướng bảo hộ mậu dịch, một bên là xu thế tự do hóa. Khi phụ thuộc vào các thị trường bên ngoài đang vận hành theo những dòng thương mại khác nhau chẳng hạn Mỹ thiên về bảo hộ, còn Trung Quốc theo hướng cởi mở, mà Việt Nam xử lý tốt thì rất nhiều cơ hội được mở ra.