Chuyển dịch năng lượng từ khí tự nhiên
Ngày 22/1, Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học "Ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp – Hướng tới sản xuất xanh và Net Zero 2050".
Phát biểu khai mạc, ông Mai Duy Thiện - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam cho biết, trong những thập kỷ gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và mở rộng quy mô sản xuất, nhu cầu năng lượng của Việt Nam liên tục gia tăng và được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới.
“Việt Nam lại nằm trong nhóm các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, với thiệt hại kinh tế ước tính lên tới hàng tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 3% GDP. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc hệ thống năng lượng theo hướng xanh hơn, sạch hơn và bền vững hơn”, ông Thiện nhấn mạnh.

Ông Mai Duy Thiện - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam
Theo đó, khí tự nhiên được nhìn nhận như một nguồn nhiên liệu chuyển tiếp, hỗ trợ quá trình thay thế dần các công nghệ phát thải cao, hướng tới mô hình sản xuất xanh và phát triển bền vững. Việc ứng dụng khí tự nhiên trong công nghiệp không chỉ góp phần thực hiện các mục tiêu về giảm phát thải và sử dụng năng lượng hiệu quả, mà còn có ý nghĩa trong việc bảo đảm an ninh năng lượng, phù hợp với định hướng phát triển năng lượng quốc gia và các cam kết của Việt Nam về mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Tại đây, ông Nguyễn Khắc Quyền – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cũng chỉ ra, so với than và dầu, khí tự nhiên có cường độ phát thải CO thấp hơn, ít phát thải các chất ô nhiễm cục bộ và phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu suất năng lượng trong sản xuất công nghiệp.
Đối với Việt Nam, khí tự nhiên không chỉ là nhiên liệu cho phát điện mà còn là đầu vào quan trọng của một số ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép, phân bón, hóa chất.
Tuy nhiên, giai đoạn tới cũng là giai đoạn ngành khí Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức như sự suy giảm nguồn khí nội địa, gia tăng phụ thuộc vào LNG nhập khẩu, hạ tầng phân phối khí cho công nghiệp còn hạn chế và cơ chế chính sách chưa theo kịp yêu cầu phát triển thị trường.
“Vì vậy, việc đánh giá toàn diện thực trạng và xác định rõ định hướng phát triển, sử dụng khí tự nhiên trong công nghiệp giai đoạn 2025 - 2035 là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm hài hòa các mục tiêu tăng trưởng, môi trường và an ninh năng lượng Quốc gia”, ông Nguyễn Khắc Quyền nhấn mạnh.
Áp lực nguồn cung khí
Về thực trạng khai thác khí khu vực nội địa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho biết, giai đoạn 2010-2019, sản lượng khí tự nhiên khai thác hàng năm trung bình khoảng 9- 10 tỷ m3/năm.
Trong giai đoạn 2010 - 2015, Việt Nam đạt đỉnh về khai thác khí tự nhiên với sản lượng khoảng 10 - 11 tỷ m³/năm, chủ yếu từ các mỏ tại bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay - Thổ Chu.
Tuy nhiên, từ sau năm 2016, sản lượng khí nội địa có xu hướng suy giảm rõ rệt do nhiều mỏ khí bước vào giai đoạn suy kiệt tự nhiên, trong khi các mỏ mới có quy mô nhỏ và tiến độ phát triển chậm.

Ông Nguyễn Khắc Quyền – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương.
Đến giai đoạn 2021 - 2025, sản lượng khí khai thác chỉ còn khoảng 5,95 - 8,08 tỷ m³/năm và được dự báo tiếp tục giảm trong giai đoạn tới nếu không có các dự án khí mới được đưa vào khai thác đúng tiến độ.
Theo đó, trong bối cảnh sản lượng khí tự nhiên khai thác trong nước suy giảm, trong khi nhu cầu khí cho phát điện và sản xuất công nghiệp tiếp tục gia tăng, Việt Nam đã từng bước mở rộng phạm vi bảo đảm nguồn cung thông qua nhập khẩu LNG.
“Việc lô LNG đầu tiên, với khối lượng khoảng 70.000 tấn, cập cảng Thị Vải vào tháng 7/2023 để phục vụ chạy thử và vận hành hệ thống kho cảng LNG đánh dấu giai đoạn khởi đầu của hoạt động nhập khẩu LNG tại Việt Nam, đồng thời phản ánh sự chuyển dịch dần từ mô hình dựa chủ yếu vào khí nội địa sang mô hình kết hợp giữa nguồn khí trong nước và khí nhập khẩu”, ông Quyền phân tích.
Mở "nút thắt" kết nối hạ tầng khí – điện – khu công nghiệp
Từ những phân tích thực tiễn, TS. Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhận định, sự phát triển của hạ tầng khí tại Việt Nam chưa theo kịp tốc độ mở rộng của các khu công nghiệp, khu kinh tế.
“Trong khi nhiều khu công nghiệp mới liên tục được phê duyệt và mở rộng, hạ tầng khí lại thiếu các nhánh kết nối trực tiếp, khiến doanh nghiệp buộc phải sử dụng các nguồn năng lượng kém hiệu quả và phát thải cao hơn”, ông chỉ ra.
Một vấn đề khác là LNG dù đã có hạ tầng nhập khẩu nhưng vẫn chưa thực sự “chạm” tới người tiêu dùng cuối, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp công nghiệp quy mô nhỏ và vừa trong khu công nghiệp. Nguyên nhân đến từ việc thiếu các mô hình kinh doanh linh hoạt như LNG quy mô nhỏ, trạm LNG vệ tinh hay các cụm khách hàng công nghiệp dùng chung hạ tầng.

TS. Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam.
Bên cạnh đó, quy hoạch phát triển hạ tầng khí và quy hoạch khu công nghiệp, khu kinh tế chưa được đồng bộ, trong khi cơ chế chia sẻ rủi ro cho đầu tư hạ tầng vẫn còn thiếu và chưa rõ ràng. Điều này khiến cả doanh nghiệp khí lẫn nhà đầu tư khu công nghiệp đều e ngại trong việc “đi trước một bước”.
Nhìn về hướng phát triển, TS. Nguyễn Quốc Thập nhận định giai đoạn 2030–2045 được xác định là thời kỳ then chốt để hình thành mạng lưới kết nối hạ tầng khí – điện – khu công nghiệp, khu kinh tế một cách đồng bộ. Trọng tâm là ưu tiên các khu công nghiệp trọng điểm, khu kinh tế ven biển; phát triển LNG quy mô nhỏ; xây dựng hạ tầng dùng chung và sẵn sàng cho việc chuyển đổi sang hydrogen trong tương lai.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ông cho rằng cần sớm đưa hạ tầng khí vào danh mục hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp; áp dụng cơ chế đầu tư PPP cho các tuyến ống nhánh; có chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và giá dịch vụ hạ tầng. Đồng thời, các hợp đồng mua khí dài hạn với khách hàng công nghiệp cần được thúc đẩy để tạo nền tảng tài chính cho đầu tư hạ tầng.
Bên cạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước trong quy hoạch và chính sách, sự chủ động của chủ đầu tư khu công nghiệp, doanh nghiệp khí và cam kết nhu cầu dài hạn từ doanh nghiệp sản xuất là những mắt xích không thể thiếu.
Kết nối hạ tầng khí với khu công nghiệp, khu kinh tế vì thế không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà là bài toán chiến lược cho tăng trưởng xanh. Khí tự nhiên và LNG, nếu được đặt đúng vị trí, sẽ không chỉ là nhiên liệu chuyển tiếp, mà còn là nền tảng cho một mô hình công nghiệp bền vững trong nhiều thập kỷ tới.
Link nội dung: https://thoibaovietnam.net/khi-tu-nhien-va-bai-toan-chuyen-dich-nang-luong-cho-cong-nghiep-viet-nam-a188657.html