Các khu công nghệ cao 'hút' gần 17 tỷ USD FDI

Các khu công nghệ cao đang dần khẳng định vai trò trung tâm thu hút đầu tư công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Tổng vốn FDI lũy kế vào các khu công nghệ cao trọng điểm đã đạt gần 17 tỷ USD, tạo nền tảng cho phát triển R&D, đào tạo nhân lực và hình thành hệ sinh thái công nghệ cao.

Các khu công nghệ cao tiếp tục là hạt nhân thu hút đầu tư công nghệ cao, thúc đẩy R&D, đào tạo nhân lực - Ảnh internet

Hiện nay, cả nước có 6 khu công nghệ cao với quy mô và định hướng phát triển khác nhau, đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư công nghệ cao, thúc đẩy nghiên cứu – phát triển (R&D), đào tạo nhân lực và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ.

Khu Công nghệ cao TPHCM là một trong những mô hình tiêu biểu. Với diện tích 534,14ha, khu hiện có 121 dự án thuê đất với tổng vốn đầu tư 12,24 tỷ USD, suất đầu tư bình quân 20,96 triệu USD/ha.

Năm 2025, có 112 dự án đang hoạt động với hơn 52.000 lao động. Có thời điểm kim ngạch xuất khẩu từ khu công nghệ cao này chiếm tới 47% tổng kim ngạch xuất khẩu của TPHCM. Khu đã đóng góp khoảng 1,7 tỷ USD vào ngân sách, tổng vốn giải ngân đạt hơn 6,3 tỷ USD. Thành phố đang triển khai đề án mở rộng khu thêm khoảng 200ha nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn tới.

Khu Công nghệ cao Hòa Lạc cũng là một trung tâm công nghệ cao quan trọng của cả nước. Đến nay, khu đã thu hút 109 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 116 nghìn tỷ đồng (khoảng 5 tỷ USD).

Hòa Lạc được quy hoạch với 8 khu chức năng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế về hạ tầng R&D với khoảng 80 phòng thí nghiệm. Bên cạnh đó, hạ tầng xã hội – kỹ thuật và mức độ liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục được tăng cường.

Ngoài các khu đã hoạt động, một số khu công nghệ cao mới đang được hình thành với định hướng phát triển các công nghệ mũi nhọn.

Khu công nghệ cao Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) có quy mô 663,19ha, định hướng phát triển các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, điện tử – bán dẫn, công nghệ sinh học, y dược và vật liệu mới. Khu hiện đang trong quá trình thành lập Ban quản lý và kêu gọi đầu tư.

Khu công nghệ cao Hưng Yên (HINNOPOLIS) có quy mô khoảng 496,1 ha, đang hoàn thiện quy hoạch và hồ sơ thành lập. Khu được định hướng phát triển theo mô hình làm chủ và giải mã công nghệ, thực nghiệm – sản xuất thử, đào tạo nhân lực, ươm tạo doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ công nghệ.

Trong khi đó, Khu Công nghệ cao Đà Nẵng có diện tích 1.128 ha, được quy hoạch thành 6 phân khu chức năng với mục tiêu gắn kết đào tạo – nghiên cứu – sản xuất và ươm tạo doanh nghiệp, hướng tới trở thành trung tâm công nghệ cao của khu vực miền Trung.

Ở lĩnh vực công nghệ sinh học, Khu công nghệ cao công nghệ sinh học Đồng Nai có diện tích 207,8ha, định hướng phát triển các hoạt động nghiên cứu, ươm tạo, chuyển giao công nghệ, sản xuất và đào tạo. Tuy nhiên, quy hoạch khu công nghệ cao này vẫn chưa được phê duyệt đầy đủ.

Trong khi đó, Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội có diện tích 199,03ha với tổng vốn đầu tư hạ tầng và giải phóng mặt bằng khoảng 5,9 nghìn tỷ đồng. Theo kế hoạch, hạ tầng khu dự kiến hoàn thành vào năm 2029, tập trung vào các hoạt động R&D, sản xuất, dịch vụ và ươm tạo công nghệ sinh học.

Theo đánh giá của Bộ KH&CN, trong số 6 khu công nghệ cao hiện có ba khu đã phát huy rõ vai trò động lực thu hút đầu tư công nghệ cao với tổng vốn FDI gần 17 tỷ USD từ các tập đoàn lớn và doanh nghiệp trong nước.

Các bộ, ngành cũng đang tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách nhằm phát triển khu công nghệ cao gắn với định hướng phát triển các công nghệ và ngành công nghiệp chiến lược.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khu công nghệ cao

Thời gian qua, công tác quy hoạch và đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong các khu công nghệ cao tiếp tục được quan tâm. Cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế, đầu tư và hỗ trợ R&D từng bước được hoàn thiện nhằm nâng cao sức hấp dẫn đối với các dự án công nghệ cao.

Một dấu mốc quan trọng là việc Quốc hội thông qua Luật Công nghệ cao (sửa đổi) vào ngày 10/12/2025 với 6 chương, 27 điều. Luật đã chuyển cách tiếp cận từ “khuyến khích chung” sang “đầu tư trọng điểm” và “quản lý, kiểm soát thực chất”.

Đáng chú ý, luật bổ sung hai khái niệm mới là công nghệ chiến lược và công nghiệp chiến lược, tạo cơ sở pháp lý để tập trung nguồn lực phát triển các công nghệ đột phá, làm chủ công nghệ lõi, gắn với yêu cầu quốc phòng, an ninh và tự chủ công nghệ.

Luật cũng bổ sung nhiều cơ chế mới nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trong đó có cơ chế hợp tác công – tư (PPP) trong phát triển hạ tầng và hoạt động công nghệ cao; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các công nghệ mới.

Doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược và các nhóm doanh nghiệp công nghệ cao khác, với mức ưu đãi gắn với tỉ lệ nội địa hóa, mức chi cho R&D và khả năng làm chủ công nghệ.

Chính sách ưu đãi cho hoạt động R&D cũng được mở rộng, bao gồm ưu đãi về thuế, đất đai, sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ giải mã công nghệ. Sản phẩm công nghệ chiến lược được ưu tiên trong đấu thầu và mua sắm công.

Những chính sách này nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư thực chất vào nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hạn chế ưu đãi đối với doanh nghiệp chỉ lắp ráp

Luật đồng thời tăng cường phân quyền cho địa phương trong việc thành lập, mở rộng hoặc điều chỉnh khu công nghệ cao, gắn với trách nhiệm bố trí quỹ đất, đầu tư hạ tầng kết nối và xây dựng hệ sinh thái công nghệ cao theo tiêu chuẩn mới.

Hướng tới trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình phát triển khu công nghệ cao tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế.

Mô hình phát triển tại nhiều khu vẫn còn thiên về sản xuất, lắp ráp, chưa thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư và hệ sinh thái khởi nghiệp vẫn chưa chặt chẽ.

Tiến độ giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng tại một số khu còn chậm; nhiều dự án gặp khó khăn về nguồn vốn và cơ chế đầu tư. Hạ tầng phục vụ R&D hiện đại vẫn còn thiếu, đặc biệt là các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế và các trung tâm nghiên cứu quy mô lớn.

Ngoài ra, sự kết nối giữa các khu công nghệ cao và giữa các địa phương chưa đồng bộ. Mức độ hấp dẫn đối với các dự án công nghệ cao và nhân lực chất lượng cao vẫn chưa thật sự cạnh tranh so với một số quốc gia trong khu vực.

Trong giai đoạn tới, việc phát triển các khu công nghệ cao sẽ tiếp tục được thúc đẩy theo hướng hoàn thiện thể chế và tăng cường nguồn lực cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.

Đặc biệt, hai khu công nghệ cao trọng điểm là Hòa Lạc và TPHCM sẽ được tập trung phát triển thành các trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo quy mô quốc gia. Đồng thời, hình thành mạng lưới phòng thí nghiệm quốc gia và các phòng thí nghiệm vệ tinh, trung tâm ươm tạo và chuyển giao công nghệ, cũng như quy hoạch các đô thị công nghệ cao vệ tinh.

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp, khuyến khích hình thành các doanh nghiệp spin-off từ các trường đại học, phát triển sàn giao dịch công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và các cụm liên kết ngành.

Với những định hướng này, các khu công nghệ cao được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo quan trọng, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ.

Link nội dung: https://thoibaovietnam.net/cac-khu-cong-nghe-cao-hut-gan-17-ty-usd-fdi-a193974.html