Trong giai đoạn đầu tư công được kỳ vọng tạo đà cho 2026. Hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đồng loạt triển khai, từ cao tốc, vành đai đến các công trình chỉnh trang đô thị, kéo theo nhu cầu khổng lồ về đá xây dựng, cát, vật liệu san lấp. Thế nhưng, đúng vào thời điểm cần "tiếp máu" cho công trình, thị trường vật liệu lại rơi vào trạng thái khan hiếm kéo dài, trở thành điểm nghẽn đáng lo ngại đối với tiến độ đầu tư công.
Nhiều công trình trọng điểm chậm tiến độ do thiếu vật liệu, buộc phải thi công cầm chừng vì không đủ vật liệu, chi phí đội lên do phải mua giá cao, thậm chí có thời điểm "có tiền cũng không có hàng".
Điển hình như các công trình phục vụ APEC tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Dù các dự án đang tăng tốc, sẵn sàng cho sự kiện chính trị và đối ngoại đặc biệt quan trọng của quốc gia: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương năm 2027 (Hội nghị APEC 2027) nhưng mục tiêu là đảm bảo tiến độ, thi công hoàn thành các dự án đúng kế hoạch đang bị đe dọa bởi thiếu vật liệu xây dựng.
Cụ thể, theo thống kê của chủ đầu tư, để đảm bảo tiến độ, trong năm 2026 chỉ tính riêng đá dăm, tổng nhu cầu cho 7 dự án gồm: sân bay, đại lộ APEC, Trung tâm hội nghị APEC, đường DT 975, dự án tái định cư, kè APEC và tàu điện nhẹ LRT là hơn 2,6 triệu m3. Dù vậy, khối lượng đã nhập về chỉ 169.379 m3, đạt 6,3% tổng nhu cầu và khối lượng cần bổ sung là 2,5 triệu m3, kéo theo nguy cơ chậm tiến độ cho toàn bộ dự án.

Theo các nhà thầu đang thi công các công trình trọng điểm APEC, khó khăn nguồn cung, cộng với ảnh hưởng của thời tiết và việc vận chuyển gặp khó khăn do hạ tầng cảng hạn chế, nguy cơ "đình trệ" công trường đang hiển hiện.
Liên quan đến khó khăn về nguồn cung nguyên vật liệu, Bí thư Tỉnh ủy An Giang Nguyễn Tiến Hải từng đề nghị UBND tỉnh An Giang phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thi công sớm xây dựng phương án khai thác các mỏ đá đã được cấp phép, bảo đảm đủ điều kiện về năng lực khai thác, vận chuyển; tranh thủ thời điểm thời tiết thuận lợi để tổ chức thi công, đáp ứng kịp thời nhu cầu vật liệu, không làm chậm tiến độ dự án…
Theo báo cáo của Sở NN và Môi Trường An Giang, các dự án APEC và công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh thuộc nhóm ưu tiên 2. Tỉnh đã có phương án khai thác nguồn thăm dò sâu và nâng cấp trữ lượng, tuy nhiên, dự kiến phải tới tháng 6/2026 mới có thể cung cấp. Các phương án nguồn mới cấp phép và nguồn tăng công suất đang ở giai đoạn trình duyệt, xin chủ trương.
Tuy nhiên theo các nhà thầu đang thi công các công trình trọng điểm APEC, khó khăn nguồn cung, cộng với ảnh hưởng của thời tiết và việc vận chuyển gặp khó khăn do hạ tầng cảng hạn chế, nguy cơ "đình trệ" công trường đang hiển hiện. Nếu không có giải quyết kịp thời để cung cấp vật liệu cho các công trình APEC không chỉ chậm tiến độ mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, các bên liên quan cần phối hợp chặt chẽ, từ chính quyền đến doanh nghiệp, để biến thách thức thành cơ hội phát triển bền vững cho đảo Ngọc.
Theo đánh giá của các chuyên gia, nguyên nhân sâu xa của việc không nằm ở thiếu tài nguyên hay năng lực doanh nghiệp, mà nằm ở những nút thắt pháp lý kéo dài trong quản lý khoáng sản. Việc giới hạn công suất khai thác hằng năm theo các thủ tục cũ đã không còn phù hợp với tính chất cấp bách của đầu tư công giai đoạn hiện nay. Chẳng hạn, các mỏ khoáng sản đang cung cấp cho chuỗi dự án APEC hiện nay là Hòn Sóc và Trà Đuốc Lớn, mỗi mỏ đang được cấp khoảng 1 triệu khối, khai thác trong 1,5-2 năm
Trong khi Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 66.4 nhằm tháo gỡ khó khăn, cho phép áp dụng cơ chế đặc thù đối với các dự án trọng điểm đến năm 2027, thì trên thực tế, quá trình triển khai lại vấp phải sự xung đột với các quy định khác, đặc biệt là yêu cầu phải có thiết kế mỏ mới theo Nghị định 193.Sự chồng chéo này khiến nhiều mỏ dù đủ điều kiện về trữ lượng, công nghệ và môi trường vẫn không thể nâng công suất kịp thời.

Cơn khát vật liệu xây dựng vì thế không chỉ là câu chuyện của ngành khoáng sản, mà đã trở thành vấn đề mang tính hệ thống, tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư công và triển vọng tăng trưởng.
Không dừng lại ở đó, những bất cập trong Luật Địa chất và Khoáng sản cũng góp phần làm trầm trọng thêm cơn khát vật liệu. Quy định chỉ dừng ở mức "ưu tiên" thay vì bắt buộc đối với việc cho phép các tổ chức đang khai thác được thăm dò mở rộng xuống sâu mà không qua đấu giá đã tạo ra cách hiểu khác nhau giữa các địa phương.
Còn theo ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP.HCM cơ chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản hiện nay tách rời với quyền sử dụng đất đã đẩy nhiều dự án vào thế bế tắc kéo dài. Không ít trường hợp doanh nghiệp trúng đấu giá quyền khai thác nhưng không có quyền sử dụng đất, trong khi chủ đất lại không tham gia đấu giá, dẫn đến việc không thể thỏa thuận đền bù. Những dự án như vậy bị "treo" 5 - 6 năm, tài nguyên không được khai thác, trong khi thị trường thì khát vật liệu từng ngày.
Có thể thấy, cơn khát vật liệu xây dựng vì thế không chỉ là câu chuyện của ngành khoáng sản, mà đã trở thành vấn đề mang tính hệ thống, tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư công và triển vọng tăng trưởng. Khi vật liệu khan hiếm, dự án chậm tiến độ, chi phí tăng cao, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công bị bào mòn, kéo theo hệ lụy đối với toàn bộ nền kinh tế.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao từ năm 2026, ông Nguyễn Quốc Hiệp – Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu cho biết việc khan hiếm nguồn cung vật liệu cũng giống như xây một cỗ máy tăng trưởng mạnh mẽ nhưng lại thiếu nhiên liệu vận hành. Để giải quyết vấn đề này cần sự quyết liệt trong thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ kiểm soát cứng nhắc sang điều hành linh hoạt, phù hợp với yêu cầu cấp bách của đầu tư. Đặc biệt, không thể trông chờ vào nỗ lực đơn lẻ mà cần có một chiến lược tổng thể, đồng bộ, nhất quán từ trung ương đến địa phương.
Theo các chuyên gia chỉ khi những bất cập về thể chế, thủ tục, nguồn cung và giá cả được giải quyết triệt để, các dự án trọng điểm mới có thể hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững quốc gia.