Doanh nghiệp chịu sức ép bủa vây từ tình hình thế giới
Phát biểu khai mạc tại diễn đàn “Doanh nghiệp trước biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng: Kịch bản ứng phó cuối năm 2026, triển vọng năm 2027” diễn ra chiều ngày 30/10 tại Hà Nội, ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch VCCI, cho rằng tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng không phải những khái niệm vĩ mô xa vời mà tác động trực tiếp đến từng hợp đồng, đơn hàng và quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch VCCI (Ảnh: Việt Anh).
Theo ông Vinh, tỷ giá làm thay đổi chi phí nhập khẩu, nghĩa vụ ngoại tệ và hiệu quả xuất khẩu, lãi suất tác động đến chi phí vốn và dòng tiền, trong khi giá năng lượng ảnh hưởng đến hoạt động vận hành, vận chuyển, bảo quản và sức cạnh tranh. Khi cả ba yếu tố cùng biến động, tác động có thể khuếch đại lẫn nhau, khiến sức ép đối với doanh nghiệp lớn hơn.
Trong khuôn khổ diễn đàn, PGS.TS Bùi Quang Tuấn - Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận định kinh tế thế giới đang chịu tác động đồng thời từ những yếu tố.
Một mặt, xung đột địa chính trị tại Trung Đông, căng thẳng Mỹ - Iran và những bất ổn liên quan đến Nga - Ukraine tiếp tục tạo rủi ro đối với nguồn cung năng lượng. Mặt khác, làn sóng đầu tư vào AI đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và thương mại toàn cầu.
Theo các dự báo được ông Tuấn dẫn, tăng trưởng kinh tế thế giới có thể đạt khoảng 3,1% trong năm 2026 và cải thiện lên 3,4% vào năm 2027. Tuy nhiên, đằng sau bức tranh tương đối ổn định này là sự phụ thuộc ngày càng lớn vào lĩnh vực công nghệ.

PGS.TS Bùi Quang Tuấn - Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam (Ảnh: Việt Anh).
Ông Tuấn cho biết đầu tư vào AI của các tập đoàn công nghệ lớn đang tăng mạnh, trong khi nguồn thu thực tế từ các khoản đầu tư này vẫn còn tương đối khiêm tốn. Chênh lệch giữa quy mô đầu tư và khả năng tạo doanh thu có thể tiềm ẩn nguy cơ hình thành bong bóng công nghệ.
Đối với Việt Nam, cơ hội từ làn sóng AI thể hiện khá rõ qua hoạt động xuất khẩu điện tử và sự cải thiện của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nếu động lực này gặp trục trặc, nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam cũng có thể chịu tác động rõ rệt.
Bên cạnh đó, giá dầu vẫn là biến số cần đặc biệt theo dõi. Theo ông Tuấn, nếu những xung đột địa chính trị tiếp tục kéo dài, áp lực năng lượng và lạm phát toàn cầu khó có thể sớm được giải tỏa.
Dư địa vĩ mô còn nhưng đang mỏng dần
Ngoài tác động từ bên ngoài, doanh nghiệp trong nước cũng đối mặt với những áp lực nội tại liên quan đến lãi suất và khả năng tiếp cận nguồn vốn.
TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng dù kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng 9,01% trong 9 tháng năm 2026, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, đặc biệt về khả năng tiếp cận vốn.
Theo ông Hiển, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường ở mức cao phản ánh sức ép ngày càng lớn đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ chi phí vốn, đất đai, nguyên liệu đầu vào đến cơ hội thị trường hay sự chèn lấn của doanh nghiệp lớn.

TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương (Ảnh: Việt Anh).
Trong khi đó, việc lãi suất tăng không chỉ đến từ diễn biến quốc tế mà còn xuất phát từ nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế, trong khi nguồn tiền gửi vào hệ thống ngân hàng có thời điểm chưa đáp ứng được nhu cầu huy động, tạo áp lực thanh khoản và cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng thương mại.
Ông Hiển nhận định dư địa điều hành chính sách tiền tệ còn hạn chế, do đó cần tính toán mở rộng vai trò của chính sách tài khóa, đồng thời tăng cường khơi thông nguồn vốn đầu tư tư nhân. Đặc biệt, ông nhấn mạnh yêu cầu có chính sách nuôi dưỡng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh. Việc hỗ trợ cần chuyển từ cơ chế đầu vào mang tính xin - cho sang cơ chế dựa trên kết quả đầu ra.
Tại diễn đàn, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, chỉ ra rằng chính sách tiền tệ có thể vẫn được đánh giá là tương đối nới lỏng, nhưng doanh nghiệp lại đang phải đối mặt với mặt bằng lãi suất cao.

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (Ảnh: Việt Anh).
Theo ông, có ba nguyên nhân chính. Thứ nhất là kỳ vọng lạm phát và tỷ giá, khi áp lực mất giá đồng nội tệ có thể khiến lãi suất phải duy trì ở mức cao để bảo vệ giá trị đồng tiền.
Thứ hai là vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng, khi tốc độ tăng trưởng cho vay vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động. Thứ ba là sự mất cân đối về kỳ hạn nguồn vốn, trong đó nhu cầu cho vay trung và dài hạn, đặc biệt đối với lĩnh vực bất động sản, tạo thêm áp lực lên thanh khoản.
Về phía ông Đào Văn Hà - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, ông Hà cho biết Ngân hàng Nhà nước đang triển khai các giải pháp điều hành linh hoạt, phối hợp chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa nhằm ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

Ông Đào Văn Hà - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ngân hàng Nhà nước (Ảnh: Việt Anh).
Đến ngày 10/10/2026, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,44%/năm, trong khi lãi suất cho vay bình quân là 9,07%/năm. Tính đến ngày 26/10, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tổ chức tín dụng đạt hơn 20.800.000 tỷ đồng, tăng 11,94% so với cuối năm 2025.
Đồng thời, ông Đào Văn Hà cho biết Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng cải tiến quy trình cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt và nghiên cứu phương thức đánh giá tín dụng dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, năng lực quản trị và dữ liệu doanh nghiệp.
Quản trị dòng tiền, đa dạng hóa nguồn vốn
Trước những biến động khó lường, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy ứng phó tình huống sang quản trị rủi ro có hệ thống.

Quang cảnh diễn đàn (Ảnh: Việt Anh).
TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh một trong những nguyên tắc quan trọng là biến những yếu tố bất định thành các kịch bản có thể tính toán và kiểm soát. Theo ông, doanh nghiệp cần xây dựng các kịch bản dựa trên dữ liệu tài chính thực tế, từ đó kiểm tra khả năng chịu đựng trước những cú sốc về tỷ giá, lãi suất và chi phí đầu vào.
Ông cũng đặc biệt lưu ý chất lượng dữ liệu đầu vào. Các báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và dòng thu nhập phải phản ánh đúng thực tế thì kịch bản xây dựng mới có ý nghĩa.
Về phía VCCI, ông Nguyễn Quang Vinh cho rằng doanh nghiệp cần giảm sự phụ thuộc vào một kênh huy động vốn, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn.
Cũng theo ông, thị trường vốn cần phát huy tốt hơn vai trò dẫn vốn thông qua các công cụ phù hợp với quy mô, năng lực quản trị và giai đoạn phát triển của từng doanh nghiệp. Các công ty chứng khoán có thể hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá nhu cầu vốn, chuẩn hóa thông tin, tư vấn lựa chọn công cụ và xây dựng phương án huy động vốn.