Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu khơi thông thêm các nguồn lực ngoài tín dụng ngân hàng, đồng thời chuyển trọng tâm từ tăng trưởng dựa vào vốn sang năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đang trở thành định hướng xuyên suốt trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặt ra yêu cầu mở rộng dư địa tăng trưởng, đồng thời đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển trong giai đoạn 2026-2030.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác lập 2 cột mốc chiến lược: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng từ 10% trở lên trong nhiều năm liên tiếp.

Tinh thần này được thể hiện qua Kết luận số 18 ngày 2/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số - Ảnh 1.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đang trở thành định hướng xuyên suốt trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Mới đây, Nghị quyết số 19 ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam tiếp tục xác lập những định hướng quan trọng cho chặng đường tăng trưởng mới, hướng tới kiến tạo mô hình phát triển hiệu quả hơn, mở rộng dư địa để nền kinh tế bứt phá.

Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam đang duy trì nhịp tăng trưởng tích cực. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2011. Sang tháng 7, nhiều chỉ tiêu về sản xuất, kinh doanh, đầu tư và thương mại tiếp tục ghi nhận chuyển biến khả quan, hoạt động của doanh nghiệp từng bước sôi động, dòng vốn đầu tư được khơi thông và giao thương mở rộng.

Khơi thông các nguồn lực ngoài ngân hàng

Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn về đầu ra, tiếp cận vốn và rào cản thể chế.

Tính đến ngày 30/6/2026, trong hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, khoảng 432.000 doanh nghiệp báo lỗ, trong khi chỉ khoảng 420.000 doanh nghiệp có lãi. Cấu trúc doanh nghiệp “đông nhưng nhỏ”, với khoảng 70% doanh nghiệp ngoài Nhà nước có vốn dưới 10 tỷ đồng, khiến khả năng tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn còn hạn chế.

Khảo sát của VCCI chỉ ra 3 nhóm khó khăn lớn. Trong đó, 60,2% doanh nghiệp phản ánh khó khăn trong tìm kiếm khách hàng; hơn 53% doanh nghiệp bị giảm đơn hàng xuất khẩu do chi phí vận tải tăng mạnh.

Ở khả năng tiếp cận tín dụng, 93,5% khoản vay ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp, khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn. Trong khi đó, hơn 51% vướng mắc pháp lý xuất phát từ các quy định chưa rõ ràng hoặc thiếu tính khả thi.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số - Ảnh 2.

Cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn về đầu ra, tiếp cận vốn và rào cản thể chế.

Những con số này cho thấy bài toán vốn của doanh nghiệp không thể chỉ giải quyết bằng việc mở rộng tín dụng ngân hàng. Phát triển đồng bộ thị trường vốn, tạo thêm các kênh huy động vốn trung và dài hạn, đồng thời hoàn thiện môi trường thể chế sẽ là điều kiện quan trọng để nâng cao sức khỏe doanh nghiệp và tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững.

Nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam cần mở rộng cách tiếp cận về nguồn lực tài chính, thay vì tập trung chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.

Vàng và các tài sản tích trữ trong dân cư được xem là một nguồn lực tài chính lớn nhưng chưa được đưa vào lưu thông hiệu quả. TS. Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng, nếu được thiết kế minh bạch và có cơ chế quản lý rủi ro phù hợp, việc tài chính hóa vàng thông qua các cơ chế như sàn giao dịch vàng, chứng chỉ vàng hoặc sản phẩm tài chính gắn với vàng có thể góp phần đưa nguồn lực này vào nền kinh tế chính thức, đồng thời giảm tình trạng đầu cơ và tích trữ tài sản.

Một nguồn lực khác là vốn đầu tư công, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nhận định, việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công không chỉ nâng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tới khu vực tư nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng, logistics và công nghiệp hỗ trợ.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số - Ảnh 3.

Cần thu hút có chọn lọc, ưu tiên các dự án FDI có hàm lượng công nghệ cao.

Trong khi đó, hoàn thuế đúng hạn và minh bạch được xem là một hình thức giải phóng dòng tiền nhanh cho doanh nghiệp. Đối với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, việc chậm hoàn thuế giá trị gia tăng có thể làm gia tăng áp lực vốn lưu động và hạn chế khả năng mở rộng sản xuất.

TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận định cải cách quy trình hoàn thuế sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính, tăng khả năng tự chủ dòng tiền và qua đó giảm phụ thuộc vào vay ngân hàng.

Bên cạnh các nguồn lực truyền thống, Việt Nam cần phát triển những thị trường tài chính mới như thị trường carbon, tài chính xanh, tài sản số và các công cụ tài chính phi ngân hàng. Theo TS. Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội), thị trường carbon có thể trở thành một kênh huy động nguồn lực mới cho quá trình chuyển đổi xanh, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ giảm phát thải.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số - Ảnh 4.

TS. Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội).

Các hình thức cho thuê tài chính, bao thanh toán và tài trợ chuỗi cung ứng cũng có thể góp phần giải quyết nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm thường gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng truyền thống.

Đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), yêu cầu đặt ra là chuyển từ thu hút bằng mọi giá sang thu hút có chọn lọc, ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, khả năng chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Các nhà phân tích nhấn mạnh chất lượng dòng vốn FDI quan trọng hơn số lượng. Nếu FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và ít kết nối với khu vực doanh nghiệp nội địa, tác động lan tỏa tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế sẽ bị hạn chế.

Từ tăng vốn sang tăng năng suất

Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn lực mà còn ở khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Tại hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030”, bà Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, cho biết cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025 đã chuyển dịch theo hướng tích cực.

Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ khoảng 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 12,7% xuống 11,6%.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực quan trọng. Năm 2025, giá trị tăng thêm của ngành tăng gần 10%, đóng góp khoảng 32% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng trên 8%, đóng góp hơn 51% vào tăng trưởng.

Theo bà Liên, Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào lao động và khai thác tài nguyên sang mô hình dựa nhiều hơn vào công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ. Tuy nhiên, thay đổi về cơ cấu ngành chưa đồng nghĩa với nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số - Ảnh 5.

Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang dựa vào năng suất.

Điểm nghẽn lớn vẫn nằm ở năng suất lao động. Năm 2025, năng suất lao động tăng khoảng 6,83%, đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động, nhưng bình quân giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng khoảng 5,2%, thấp hơn mục tiêu đề ra.

Đối với kinh tế số, mục tiêu đặt ra là tỉ trọng đạt khoảng 20% GDP, song đến cuối kỳ mới đạt hơn 14%, cho thấy dư địa phát triển vẫn còn lớn.

Năm 2025, gần 300.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, nhưng cũng có trên 220.000 doanh nghiệp rút lui. Theo bà Liên, diễn biến này cho thấy khả năng tồn tại, mở rộng quy mô và nâng cao năng suất của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, nhất là khu vực tư nhân trong nước còn thiếu những doanh nghiệp lớn có năng lực công nghệ và khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Gỡ điểm nghẽn để kinh tế số hướng tới mục tiêu chiếm 30% GDPTăng trưởng 2 con số: Không thể chỉ trông vào tín dụng

Từ thực tế trên, giai đoạn 2026-2030 cần chuyển từ cơ cấu lại nền kinh tế sang nâng cao chất lượng cơ cấu, tập trung vào thể chế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cấp công nghiệp chế biến, chế tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Theo bà Lê Thị Mai Liên, Việt Nam cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang dựa vào năng suất; từ lợi thế lao động giá rẻ sang công nghệ và nhân lực chất lượng cao; từ thu hút FDI theo số lượng sang thu hút theo chất lượng, gắn với chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, mô hình tăng trưởng cũng cần chuyển sang hướng xanh, bao trùm và có khả năng chống chịu cao hơn.

Để thực hiện mục tiêu này, sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa được xem là điều kiện quan trọng. Nghị quyết 168 của Chính phủ yêu cầu điều hành chính sách đồng bộ nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cho rằng, chính sách tiền tệ không thể gánh quá nhiều nhiệm vụ hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn tới. Vì vậy, chính sách tài khóa cần chủ động hơn thông qua đẩy mạnh đầu tư công, cải cách thuế, hỗ trợ doanh nghiệp và tạo điều kiện cho thị trường vốn phát triển.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng 2 con số - Ảnh 6.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.

Bài học cuối năm 2022 cho thấy khi chính sách tiền tệ bị thắt chặt đột ngột, các kênh dẫn vốn như chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản đều chịu tác động mạnh. Thị trường chỉ dần ổn định khi Chính phủ triển khai các giải pháp hỗ trợ như Nghị quyết 08 về trái phiếu doanh nghiệp và Thông tư 02 về cơ cấu lại nợ.

Như vậy, bài toán nguồn lực cho tăng trưởng không thể được giải quyết bằng một công cụ hay một kênh dẫn vốn riêng lẻ. Việt Nam cần một chiến lược tài chính đồng bộ, trong đó ngân hàng tập trung vào vốn ngắn hạn, vốn lưu động và dịch vụ thanh toán; thị trường vốn đảm nhận tốt hơn vai trò cung cấp vốn trung và dài hạn; nguồn lực trong dân được huy động thông qua các công cụ tài chính phù hợp; vốn đầu tư công và FDI tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn tới khu vực tư nhân.

Quan trọng hơn, nền kinh tế cần chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào tăng vốn, lao động và mở rộng đầu tư sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Đây sẽ là nền tảng để Việt Nam mở rộng dư địa tăng trưởng và hướng tới mục tiêu hai con số theo hướng bền vững.