Một dự án năng lượng chịu sự điều chỉnh của hàng loạt luật: Chuyên gia chỉ rõ 4 'điểm nghẽn' lớn

Sự phát triển mạnh mẽ của AI và trung tâm dữ liệu đang đặt ra bài toán lớn về nhu cầu năng lượng đến năm 2030. Trước thực tế đó, việc rà soát và hoàn thiện chính sách, tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế là nhiệm vụ cấp bách để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Theo dự báo, đến năm 2030, nhu cầu năng lượng tại Việt Nam sẽ tăng mạnh do tác động của quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số và sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao như AI, trung tâm dữ liệu. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn: nguồn cung truyền thống suy giảm, dự án chậm tiến độ, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và thiếu hụt cơ chế tài chính cho các dự án quy mô lớn (LNG, năng lượng tái tạo, hydrogen).

Trước thực tế đó, việc rà soát và hoàn thiện chính sách, tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế là nhiệm vụ cấp bách. Xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh cao chính là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy ngành năng lượng Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững trong tương lai.

Nhằm nhằm tạo ra một không gian đối thoại, chia sẻ và kết nối giữa các nhà quản lý, doanh nghiệp và các bên liên quan để cùng nhau trao đổi, đánh giá thực trạng, nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất các giải pháp đột phá cho ngành năng lượng, mới đây, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – VietNam Economic Times tổ chức Diễn đàn "Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng".

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho biết Luật Dầu khí sửa đổi sẽ được Quốc hội xem xét thông qua sắp tới, với mục tiêu trọng tâm là cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đầu tư vào ngành dầu khí, thúc đẩy ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển.

Ông Hiếu nhấn mạnh sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí xuất phát từ những thay đổi mạnh mẽ cả trong bối cảnh quốc tế và trong nước, đặc biệt là yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mới theo hướng tăng trưởng nhanh, mạnh mẽ và bền vững. Trong đó, năng lượng giữ vai trò then chốt, hoạt động dầu khí là một cấu phần quan trọng, đồng thời gắn với chiến lược phát triển kinh tế biển và yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia.

Việc sửa đổi luật cũng nhằm cập nhật những thay đổi về thể chế được đặt ra trong các nghị quyết và luật mới. Theo ông Hiếu, Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển kinh tế biển, Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Luật số 68/2025/QH15 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã tạo ra những thay đổi đáng kể về phân cấp, phân quyền và nguyên tắc quản lý. Trong khi đó, Luật Dầu khí năm 2022 chưa kịp cập nhật đầy đủ những thay đổi này.

Một dự án năng lượng chịu sự điều chỉnh của hàng loạt luật: Chuyên gia vạch rõ 4 'điểm nghẽn' lớn - Ảnh 1.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội,

"Bởi vậy, lần sửa đổi này không đơn thuần là điều chỉnh một số quy định để xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Dầu khí năm 2022. Điểm được nhấn mạnh là yêu cầu cải cách thể chế, qua đó biến thể chế thành một lợi thế cạnh tranh của quốc gia", ông Hiếu cho hay.

Với cách tiếp cận này, yêu cầu đặt ra là thể chế phải đi trước, có khả năng hoàn thiện nhanh chóng khi xuất hiện những vấn đề mới trong thực tiễn, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư và thu hút hoạt động dầu khí.

Chính phủ đã đề xuất tập trung vào 5 nhóm chính sách trọng tâm trong lần sửa đổi Luật Dầu khí, gồm hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường phân cấp, phân quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng dầu khí và những vấn đề đặc thù phát sinh trong thực tế; hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; xây dựng khung cho giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí.

Những 'điểm nghẽn' lớn của ngàh năng lượng

TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, nhận định ngành năng lượng đang đứng trước áp lực phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế.

Theo ông Dũng, điểm nghẽn đầu tiên nằm ở sự thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách. Một dự án năng lượng có thể đồng thời thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều đạo luật, gồm Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên biển, cùng các nghị định và văn bản hướng dẫn.

Việc phải đáp ứng nhiều lớp quy định có thể khiến thủ tục đầu tư trở nên phức tạp, kéo dài thời gian chuẩn bị và làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp.

Điểm nghẽn thứ hai là thị trường năng lượng chưa phát triển đầy đủ. Thị trường điện cạnh tranh mới vận hành ở một mức độ nhất định, trong khi giá điện chưa phản ánh đầy đủ tín hiệu thị trường và quá trình điều chỉnh giá còn chậm.

Các cơ chế liên quan đến bao tiêu sản lượng và hợp đồng mua bán điện cũng chưa hoàn thiện. Riêng với khí và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), thị trường gần như chưa hình thành đầy đủ, thiếu khung pháp lý minh bạch, cơ chế bảo đảm huy động công suất và hợp đồng dài hạn. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút vốn vào các dự án hạ tầng LNG.

Một dự án năng lượng chịu sự điều chỉnh của hàng loạt luật: Chuyên gia vạch rõ 4 'điểm nghẽn' lớn - Ảnh 2.

TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, trình bày tham luận tại Diễn đàn.

Điểm nghẽn thứ ba được các chuyên gia đề cập là sự thiếu đồng bộ giữa nguồn điện và hạ tầng truyền tải. Theo đó, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển mạnh hệ thống truyền tải, lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh. Tuy nhiên, cơ chế huy động nguồn lực tư nhân đầu tư vào lưới điện vẫn còn hạn chế.

Trong thực tế, nếu nguồn điện được xây dựng nhưng hạ tầng truyền tải không hoàn thành tương ứng, công suất mới sẽ khó được giải phóng, làm giảm hiệu quả đầu tư và tạo thêm áp lực cho hệ thống điện.

Điểm nghẽn thứ tư là khoảng trống chính sách đối với các ngành năng lượng mới. Ông Dũng cho biết, trong khi nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược riêng cho hydrogen, công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), nhiên liệu hàng không bền vững, lưu trữ năng lượng và tín chỉ carbon, một số lĩnh vực tại Việt Nam vẫn thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi, phương pháp định giá cũng như thị trường tiêu thụ.

Sự thiếu vắng hành lang chính sách khiến doanh nghiệp thận trọng khi quyết định đầu tư. Các ngân hàng và tổ chức tài chính cũng gặp khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả, rủi ro và khả năng hoàn vốn của dự án.

Bên cạnh những vướng mắc trong nước, diễn biến địa chính trị phức tạp đang khiến bài toán an ninh năng lượng không còn phụ thuộc riêng vào sản lượng nội địa. Khả năng đa dạng hóa nguồn cung, duy trì dự trữ chiến lược và ứng phó với biến động bên ngoài ngày càng trở nên quan trọng.

Đề xuất hoàn thiện cơ chế giá điện và thị trường LNG

Để năng lượng trở thành động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới, TS. Nguyễn Hùng Dũng cho rằng Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm giải pháp. Trước hết, hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư năng lượng cần được rà soát tổng thể, bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai và các luật chuyên ngành. Cùng với đó là yêu cầu đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án.

Nhóm giải pháp thứ hai là xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước. Trong đó, cần sớm hoàn thiện cơ chế giá điện, thị trường khí và LNG, hợp đồng mua bán điện dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Các công cụ như tín chỉ carbon và tài chính xanh cũng cần được phát triển để mở rộng khả năng huy động vốn từ khu vực tư nhân và các tổ chức quốc tế.

Giải pháp còn lại là xây dựng đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp năng lượng. Việc đầu tư không chỉ dừng ở các nhà máy điện mà phải được triển khai cùng hạ tầng truyền tải, hệ thống lưu trữ, chuỗi cung ứng thiết bị, công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen và những ngành năng lượng mới cũng được xem là cần thiết để nâng tỷ lệ nội địa hóa và năng lực cạnh tranh.