Mục tiêu đến 2035, ngành thép đáp ứng được 85% - 90% nhu cầu trong nước

Admin
Ngành thép sẽ chuyển đổi cơ cấu sản phẩm để từng bước thay thế thép nhập khẩu, đặc biệt là thép hợp kim, thép dụng cụ. Mục tiêu đến năm 2035 đáp ứng được 85% - 90% nhu cầu thép trong nước.

Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).

Giảm nhập khẩu, đáp ứng 85% - 90% nhu cầu thép trong nước

Chiến lược nhằm phát triển ngành thép theo hướng tập trung vào sản phẩm thép có chất lượng cao phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế; đa dạng về sản phẩm, từng bước chuyển đổi sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường, tận dụng tối đa nguồn nhiên liệu, đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước, tăng nhanh xuất khẩu, tính cạnh tranh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển đổi cơ cấu sản phẩm để từng bước thay thế thép nhập khẩu, đặc biệt là thép hợp kim, thép dụng cụ và các sản phẩm thép đặc biệt cho các ngành chế tạo trong nước.

Đến năm 2035, ngành thép đáp ứng được 85% - 90% nhu cầu trong nước - Ảnh 1.

Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, ngành thép phải đáp ứng được khoảng 80-85% nhu cầu nội địa. Về năng lực sản xuất, phấn đấu sản lượng thép thô đạt 25-26 triệu tấn/năm (tăng trưởng 7-8%/năm); thép thành phẩm đạt 32-33 triệu tấn/năm (tăng trưởng 5,5-6,5%/năm). Mức tiêu thụ thép bình quân đầu người dự kiến đạt 270-280 kg/năm.

Giai đoạn 2030-2035, tỷ lệ đáp ứng nhu cầu trong nước sẽ được nâng lên mức 85-90%. Lúc này, Việt Nam sẽ ưu tiên tối đa cho các dòng thép có giá trị gia tăng cao phục vụ công nghiệp hỗ trợ như: ô tô, đóng tàu, cơ khí chế tạo và năng lượng.

Trong giai đoạn này, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 6,0% - 7,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 33 - 36 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 4,5% - 5,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 40 - 43 triệu tấn/năm. Thép tiêu thụ bình quân 340 - 360 kg/người/năm.

Đến năm 2050, Chính phủ đặt kỳ vọng ngành thép Việt Nam sẽ có năng lực sản xuất thép thô đạt tới 65-70 triệu tấn/năm và thép thành phẩm đạt 75-80 triệu tấn/năm. Khi đó, mức tiêu thụ bình quân đầu người sẽ tiệm cận các nước phát triển, đạt khoảng 570-650 kg/người/năm.

Nghiên cứu, sản xuất các loại thép đặc chủng phục vụ hạ tầng chiến lược

Đáng chú ý, Chiến lược tập trung phát triển các sản phẩm có lợi thế, có nhu cầu sử dụng cao hiện tại trong nước chưa sản xuất được; chú trọng đầu tư vào các dự án sản xuất thép công nghệ tiên tiến, hiện đại, sản xuất thép xanh, thép hợp kim, thép cho ngành chế tạo, các sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, có đủ khả năng tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời tăng nhanh hàm lượng khoa học, công nghệ nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn quốc tế.

Chiến lược cũng đưa ra các định hướng cụ thể về: sản phẩm ưu tiên; nguồn nguyên liệu; nguồn năng lượng phục vụ sản xuất; phát triển các doanh nghiệp ngành thép; thị trường tiêu thụ thép trong nước và xuất, nhập khẩu; công nghệ; phân bố không gian.

Đặc biệt, Chính phủ nêu nhiệm việc nghiên cứu và sản xuất các loại thép đặc chủng phục vụ hạ tầng chiến lược quốc gia. Trong đó, Chính phủ định hướng ngành thép phải làm chủ công nghệ sản xuất thép thanh ray phục vụ cho phát triển đường sắt tốc độ cao.

Bên cạnh đó, phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực, thép dùng trong bê tông cốt thép ứng suất trước, thép không gỉ chống ăn mòn dùng cho các công trình biển đảo, thép siêu nhẹ sử dụng cho các thiết bị trong ngành giao thông vận tải; thép nhẹ cán nguội, thép ngành đóng tàu; thép ống đúc để vận chuyển khí hóa lỏng, ống thép không hàn cho đóng tàu, trụ điện gió, thép chế tạo trong quốc phòng an ninh.