Rò rỉ khí clo: Sai lầm tai hại khi tìm nơi ẩn nấp nhiều người mắc phải

Khí clo rò rỉ có thể gây bỏng đường thở, phù phổi, suy hô hấp, thậm chí tử vong; người hít phải khí độc cần nhanh chóng thoát khỏi vùng nguy hiểm.

Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, cho biết clo được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước, khử khuẩn và sản xuất công nghiệp. Hóa chất này có mặt trong quy trình xử lý nước sinh hoạt, nước hồ bơi, sản xuất nhựa, giấy, vải và nhiều sản phẩm công nghiệp khác.

Ở điều kiện thông thường, clo là khí màu vàng lục, mùi hắc, gây cay mắt và xộc mũi. Để thuận tiện vận chuyển, clo có thể được hóa lỏng dưới áp suất và chứa trong bình chuyên dụng. Khi bình hoặc van gặp sự cố, clo thoát ra ngoài nhanh chóng chuyển thành khí, phát tán vào không khí.

Đặc biệt, clo nặng hơn không khí nên có thể tích tụ ở những nơi thấp như tầng hầm, hố, rãnh hoặc khu vực kín, thông gió kém. Đây là lý do người dân không nên tìm cách trú xuống chỗ thấp khi nghi có khí clo rò rỉ.

Khi hít phải khí clo, người tiếp xúc có thể lập tức cay mắt, chảy nước mắt, rát mũi họng, ho sặc hoặc tức ngực. Trường hợp nặng có thể xuất hiện co thắt phế quản, khò khè và khó thở. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào nồng độ khí, thời gian tiếp xúc và tình trạng sức khỏe của từng người.

 - Ảnh 1.

Khí clo rò rỉ có thể gây bỏng đường thở, phù phổi, suy hô hấp, thậm chí tử vong. (Ảnh minh hoạ: AI)

Theo bác sĩ, mắt, mũi, họng và đường hô hấp đều có lớp dịch ẩm bao phủ. Khi clo tiếp xúc với lớp dịch này, nó phản ứng tạo thành axit clohydric và axit hypoclorơ. Các sản phẩm phản ứng tiếp tục gây tổn thương mô, trong khi đặc tính oxy hóa mạnh của clo làm hỏng protein, màng tế bào và lớp bảo vệ tự nhiên của đường thở.

Vì vậy, ngộ độc clo không đơn thuần là cảm giác khó chịu do mùi hắc. Đây là tổn thương hóa chất có thể gây viêm, phù nề và làm suy giảm chức năng hô hấp.

Nếu phơi nhiễm nặng, tổn thương có thể lan tới phế nang, nơi oxy được đưa từ không khí vào máu. Khi hàng rào giữa phế nang và mạch máu bị tổn thương, dịch có thể tràn vào các túi khí, gây phù phổi. Người bệnh khi đó có thể khó thở dữ dội, thiếu oxy dù vẫn cố gắng hít thở.

Điều đáng lo ngại là triệu chứng không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ ngay từ đầu. Một số người ban đầu chỉ ho, rát họng hoặc cay mắt, nhưng sau vài giờ mới khó thở tăng dần. Trong trường hợp nặng, phù phổi có thể xuất hiện muộn trong vòng 24 giờ. Vì vậy, triệu chứng giảm nhẹ không đồng nghĩa người bệnh đã hoàn toàn an toàn.

Trẻ nhỏ, người mắc hen phế quản, bệnh phổi mạn tính hoặc bệnh tim cần được chú ý hơn khi xảy ra sự cố. Sau giai đoạn cấp, một số người có thể tiếp tục ho, khò khè hoặc tức ngực khi tiếp xúc với khói thuốc, bụi và không khí lạnh. Nếu triệu chứng kéo dài, người bệnh cần khám chuyên khoa hô hấp để được đánh giá, có thể phải đo chức năng phổi.

Tuy nhiên, không phải ai tiếp xúc với clo cũng bị tổn thương phổi nghiêm trọng. Những trường hợp nhẹ có thể hồi phục hoàn toàn sau khi ngừng phơi nhiễm và được xử trí phù hợp.