Thế giới dùng máy bay hỗ trợ cũng phải mất 8 năm, Việt Nam lại chỉ cần 2 năm hoàn thành công trình lớn chưa từng có, ngốn 60.000 tấn thép và 280.000 m3 bê tông

Kỳ tích của ngành Điện Việt Nam đã diễn ra như thế nào?
Thế giới dùng máy bay hỗ trợ cũng phải mất 8 năm, Việt Nam lại chỉ cần 2 năm hoàn thành công trình lớn chưa từng có, ngốn 60.000 tấn thép và 280.000 m3 bê tông - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Theo EVN, quyết định xây dựng đường dây siêu cao áp 500kV Bắc - Nam được thông qua vào tháng 1/1992. Đến ngày 25/2/1992, Chính phủ phê duyệt Luận chứng kinh tế - kỹ thuật, yêu cầu hoàn thành trong 2 năm. Do tính chất cấp bách, công trình được phép triển khai theo phương thức khảo sát, thiết kế, nhập vật tư - thiết bị và thi công song song.

Mục tiêu hoàn thành tuyến đường dài tới 1.487km trong 2 năm khi đó được nhiều người cho là không khả thi. Thách thức không chỉ nằm ở tiến độ mà còn ở bài toán kỹ thuật đặc biệt: chiều dài tuyến 500kV Bắc - Nam mạch 1 tương đương khoảng 1/4 bước sóng điện từ. Nếu không có giải pháp phù hợp, điện áp có thể biến động rất lớn, thậm chí từ 500kV vọt lên 700-1.000kV, ảnh hưởng an toàn toàn bộ thiết bị.

Tuyến đường dây phải vượt qua khoảng 1.500km địa hình phức tạp, hiểm trở, trong khi trên thế giới thời điểm đó, đường dây dài nhất mới chỉ khoảng 700-800km và thường mất 7-8 năm để xây dựng, EVN cho biết.

Để giải quyết bài toán này, cùng với các chuyên gia nước ngoài, cán bộ kỹ thuật ngành Điện đã tính toán phương án chia đường dây thành 4 đoạn, lắp đặt các tụ bù dọc và kháng bù ngang để điều chỉnh điện áp, triệt tiêu tác động của hiện tượng 1/4 bước sóng.

Việc lựa chọn công nghệ, thiết bị cũng được đặt lên hàng đầu bởi đây là lần đầu tiên ngành điện lực Việt Nam tiếp cận trên quy mô lớn những thành tựu mới của công nghệ truyền tải điện siêu cao áp. Với nguyên tắc chất lượng là hàng đầu, vật tư, thiết bị được lựa chọn từ các quốc gia có nền công nghệ cao như Pháp, Nhật Bản, Thụy Điển, Đức, Anh, Italia, Phần Lan, Hàn Quốc và Nga.

Sau thời gian chuẩn bị, ngày 5/4/1992, tại các vị trí móng số 54, 852, 2702 và ngày 21/1/1993 tại Trạm biến áp Phú Lâm, lệnh khởi công xây dựng công trình chính thức được đưa ra.

Theo PetroTimes, trong quá trình xây dựng, công đoạn dựng cột cũng là một cuộc chạy đua với thời gian. Trong khi nhiều nước khi đó đã sử dụng cột đúc sẵn, dùng máy bay để lắp ghép, Việt Nam phải áp dụng kỹ thuật “trụ leo” do điều kiện địa hình. Từng đoạn cột được lắp ráp bằng dây tời thép chắc chắn, chủ yếu tại những khu vực đồi núi hiểm trở.

Để bảo đảm tiến độ, các Ban Chỉ huy khoán cho từng tổ, yêu cầu trung bình 2 ngày phải dựng xong một cột. Nhờ huy động lực lượng lớn lao động, nhiều cột được dựng đồng thời trên toàn tuyến. Phương pháp này cùng hình ảnh công nhân kỹ thuật leo lắp ráp từng đoạn cột khiến các đoàn khảo sát nước ngoài phải thán phục. Đến tháng 3/1993, việc dựng cột trên toàn tuyến đã hoàn thành.

Không chỉ dựng cột, việc vận chuyển vật tư lên các vị trí móng cũng là thử thách lớn. Mỗi móng cột cần tới khoảng 1.000 tấn vật liệu gồm xi măng, cát, sỏi, sắt thép. Máy móc không thể tiếp cận nhiều khu vực, buộc phải huy động người dân địa phương hỗ trợ. Đáng chú ý, công trình được song song khảo sát, thiết kế, nhập vật tư – thiết bị và thi công để đáp ứng mốc 2 năm.

Đến tháng 4/1994, cơ bản công trình được xây dựng hoàn tất với khối lượng bao gồm lắp dựng 3.437 cột thép; kéo 1.487 km dây dẫn và dây chống sét; xây dựng 22 trạm lặp cáp quang, 19 chốt vận hành đường dây; đổ 280.000m3 bêtông móng, 60.000 tấn cột thép, 23.000 tấn dây dẫn và 930 tấn dây chống sét; 6.300 tấn cách điện. Sau hơn 2 năm xây dựng thần tốc, đúng 19h7phút ngày 27/5/1994, dòng điện Bắc - Nam chính thức “lưu thông” trên toàn tuyến.

Ngay sau khi đóng điện, đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 1 đã phát huy tác dụng, giúp chấm dứt tình trạng cắt điện luân phiên tại TP.HCM. Nguồn điện được ổn định, góp phần tạo nền tảng để khu vực Đông Nam Bộ trở thành một trong những đầu tàu phát triển kinh tế của đất nước.

Đặc biệt, từ năm 1999, đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 1 không chỉ truyền tải điện từ Bắc vào Nam mà còn thực hiện nhiệm vụ truyền tải ngược từ Nam ra Bắc.

Theo lãnh đạo Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT), công trình không chỉ hoàn thành sứ mệnh cấp bách là giải quyết tình trạng thiếu điện, tạo nền tảng phát triển kinh tế - xã hội cho miền Trung và miền Nam, mà còn lần đầu tiên liên kết lưới điện 3 miền, thống nhất hệ thống điện cả nước. Qua đó, công trình góp phần nâng cao độ an toàn, ổn định cung cấp điện, chất lượng điện áp và cho phép khai thác tối ưu các nguồn điện trong hệ thống.

Đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 1 được xem là dấu mốc cho sự trưởng thành vượt bậc của ngành Điện Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời tạo tiền đề cho mạng lưới truyền tải điện phát triển về sau.

Đến tháng 9/2005, đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 2 được đưa vào vận hành, tiếp tục nâng cao độ tin cậy truyền tải điện giữa các vùng miền. Hiện nay, cùng với các đường dây 500kV, 220kV được đầu tư, các trang thiết bị và công nghệ hiện đại cũng liên tục được EVN và EVNNPT cập nhật, nhằm nâng cao chất lượng điện năng, độ tin cậy của lưới truyền tải và tối ưu nhu cầu đầu tư phát triển hệ thống.