Việt Nam sắp có siêu dự án metro gần 89.000 tỷ đồng tại thành phố giàu nhất cả nước, tương lai có thể đón tới 830.000 lượt khách mỗi ngày

Tuyến đường sắt đô thị số 1 (Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên, TP.HCM) dự kiến thi công trong khoảng 60 tháng.

Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR) vừa công bố báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án Tuyến đường sắt đô thị số 1 (Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên, TP.HCM).

Chủ dự án là MAUR, đơn vị tư vấn lập dự án là liên danh Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải - CTCP (TEDI) và Công ty TNHH Nippon Koei; Viện Chuyên ngành Môi trường thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải là đơn vị tư vấn lập báo cáo.

Tổng vốn đầu tư gần 89.000 tỷ đồng, thời gian thi công 60 tháng

Theo báo cáo ĐTM, dự án có tổng mức đầu tư 88.875 tỷ đồng. Trong đó, chi phí xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 26.530 tỷ đồng; chi phí thiết bị 19.628 tỷ đồng; kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 19.575 tỷ đồng. Phần còn lại gồm chi phí quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng và các chi phí khác 7.003 tỷ đồng, cùng khoản dự phòng 16.139 tỷ đồng.

Mức đầu tư này cao hơn đáng kể so với con số từng được TP.HCM công bố trước đó. Hồi tháng 6/2026, tuyến metro được giới thiệu có chiều dài 32,8 km, tổng vốn đầu tư khoảng 55.000 tỷ đồng. Theo kế hoạch khi đó, dự án dự kiến được phê duyệt trong tháng 11/2026, khởi công vào tháng 12/2026 và hoàn thành trong năm 2030.

Trong khi đó, báo cáo ĐTM mới xác định thời gian thi công của dự án là khoảng 60 tháng.

Theo phương án thiết kế, tuyến được đầu tư theo loại hình đường sắt đô thị vận tải nhanh khối lượng lớn (MRT), sử dụng đường đôi, khổ ray 1.435 mm và điện khí hóa. Tốc độ thiết kế tối đa trên đoạn trên cao đạt 120 km/h, trong khi tốc độ vận hành tối đa là 110 km/h.

Hướng tuyến đường sắt đô thị số 1 (Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên) - (Ảnh: ĐTM).

19 nhà ga trên cao, hai ga đầu tuyến được đầu tư sau

Theo phương án hướng tuyến, công trình bắt đầu từ khu dân cư thuộc phường Bình Dương, đi qua trung tâm Thành phố mới Bình Dương theo trục đường Hùng Vương. Sau đó, tuyến bám theo đường Mỹ Phước – Tân Vạn và đường Lê Hồng Phong, chạy song song với các tuyến đường sắt quốc gia Dĩ An – Bàu Bàng và Trảng Bom – Hòa Hưng, trước khi kết thúc tại ga S17 trên đường trục chính khu Bình Thắng, phường Đông Hòa.

Ga S17 cách ga Bến xe Suối Tiên của tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên khoảng 1,9 km. Đây cũng là điểm kết nối với tuyến đường sắt đô thị số 2 của Đồng Nai, dự án kéo dài metro Bến Thành – Suối Tiên đến trung tâm hành chính Đồng Nai và sân bay Long Thành.

Toàn tuyến được quy hoạch 19 nhà ga trên cao, thiết kế 2 tầng, với khoảng cách giữa các ga phổ biến từ 1-2,7 km. Mỗi nhà ga dài 135-150 m, rộng 23-34 m, bố trí 4 lối lên xuống. Ke ga được thiết kế dạng đảo, rộng 12 m hoặc dạng hai bên, rộng 8 m.

Một số nhà ga lớn như S1 (vòng xoay A1), S5, S11 và S17 có bề rộng 34 m nhằm đáp ứng nhu cầu trung chuyển hành khách.

Đáng chú ý, hai ga đầu tuyến S0B và S0A chưa được đề xuất đầu tư trong giai đoạn đầu. Theo dự báo nhu cầu vận tải và phương án tổ chức khai thác, hai nhà ga này sẽ được triển khai ở giai đoạn sau, khi nhu cầu đi lại tăng cao.

Phối cảnh ga S1 trong tổng thể tổ hợp văn hóa – thương mại – dịch vụ nhà ga trung tâm A1 (Ảnh: ĐTM).

Về hạ tầng kỹ thuật, depot chính của tuyến được bố trí tại khu Phú Chánh, phường Bình Dương, gần ga S0B và ga Bình Dương thuộc tuyến đường sắt quốc gia Dĩ An – Bàu Bàng.

Khu depot có diện tích khoảng 20ha, hình chữ nhật, hiện trạng chủ yếu là thảm thực vật tự nhiên và rừng trồng. Công trình được thiết kế có năng lực phục vụ 30 đoàn tàu, trong đó đã tính đến 10 đường đỗ tàu sử dụng chung với tuyến đường sắt đô thị số 2 Bình Dương.

Các hạng mục tại đây gồm xưởng sửa chữa, bảo dưỡng đoàn tàu, hệ thống rửa tàu tự động và trạm xử lý nước thải riêng.

Ngoài depot chính, tại khu vực cuối tuyến, dự án còn bố trí một bãi đỗ tàu phụ trợ rộng khoảng 8ha, gần ga S16 thuộc phường Đông Hòa.

Công trình này có ít nhất 10 đường ray đỗ tàu, một xưởng bảo trì nhẹ, bãi bảo dưỡng và nhà kho. Quy hoạch cũng dự trữ không gian để mở rộng hệ thống đường ray trong tương lai. Hiện trạng quy hoạch khu vực này là đất hỗn hợp.

Các công trình phụ trợ khác gồm hệ thống cấp nước đấu nối với mạng lưới đô thị, thoát nước mưa, phòng cháy chữa cháy, chiếu sáng, cây xanh, thông tin tín hiệu, cấp điện và hệ thống thu phí tự động (AFC).

Đối với nước thải sinh hoạt tại các nhà ga, phương án xử lý được đề xuất sử dụng công nghệ MBBR trước khi xả vào mạng lưới thoát nước đô thị.

Dự báo hơn 830.000 lượt khách mỗi ngày vào năm 2050

Về nhu cầu vận tải, báo cáo ĐTM dự báo tuyến đường sắt đô thị số 1 sẽ phục vụ khoảng 175.300 lượt khách/ngày đêm vào năm 2030. Trong đó, lượng khách lên tàu vào giờ cao điểm đạt 26.295 lượt, lưu lượng trên khu đoạn đông nhất đạt 8.766 hành khách/hướng/giờ.

Đến năm 2040, các chỉ tiêu này dự kiến tăng lên lần lượt 357.386 lượt khách/ngày đêm, 53.608 lượt khách lên tàu giờ cao điểm và 14.561 hành khách/hướng/giờ trên khu đoạn đông nhất.

Đến năm 2050, lượng khách toàn tuyến được dự báo đạt 830.191 lượt/ngày đêm. Số lượt khách lên tàu trong giờ cao điểm tăng lên 124.529 lượt, trong khi lưu lượng trên khu đoạn đông nhất đạt 28.900 hành khách/hướng/giờ.

Tần suất chạy tàu sẽ được xác định căn cứ vào nhu cầu thực tế và điều chỉnh trong giai đoạn 2030-2050.

Sau khi hoàn thành, công trình sẽ được bàn giao cho cơ quan quản lý khai thác và đơn vị vận hành theo quy định. Hoạt động trong giai đoạn khai thác chủ yếu gồm vận tải hành khách trên tuyến, bảo dưỡng định kỳ, vận hành depot Phú Chánh và bãi đỗ tàu Đông Hòa.

Trong giai đoạn thi công, dự án dự kiến bố trí 21 công trường tại các vị trí nhà ga, depot và bãi đỗ tàu. Mỗi công trường có khoảng 100 công nhân, kỹ sư. Ngoài ra, 19 trạm trộn bê tông với công suất 90 m³/giờ sẽ được lắp đặt phục vụ thi công.

Vật liệu xây dựng dự kiến được cung cấp từ các mỏ trong khu vực. Khối lượng chất thải cần vận chuyển, xử lý gồm khoảng 509.000 m³ đất các loại, gần 122.000 m³ vật liệu phá dỡ công trình và gần 384.000 m³ mùn khoan cọc nhồi có chứa bentonite.

Các loại chất thải này dự kiến được đưa về bãi thải Đa Phước và Phước Hiệp. Những tuyến đường vận chuyển vật liệu và chất thải chính gồm Hùng Vương, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Mỹ Phước – Tân Vạn, Lê Hồng Phong, ĐT.743 và ĐT.743A.